image Hoạt động Đảng - đoàn thể
Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Người lãnh đạo lâu năm nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Thứ 4, ngày 15/08/2018, 00:00 SA Cỡ chữ Màu chữ image
Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2018), Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Thanh đã có bài phát biểu nhân lễ kỷ niệm này.

Bác Tôn là chiến sĩ lão thành cách mạng Việt Nam, là người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là biểu tượng của đại đoàn kết Bắc - Nam, là người con ưu tú của dân tộc. Bác Tôn là vị Chủ tịch duy nhất của Mặt trận Liên Việt (1951 - 1955) sau khi sáp nhập Mặt trận Việt Minh với Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, đồng thời cũng là vị Chủ tịch đầu tiên và lâu năm nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 – 1977). Trong quá trình tìm đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Bác Tôn có sự gắn bó mật thiết với Bác Hồ. Chính Bác Hồ là người đã đưa Bác Tôn đến với chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất – chủ nghĩa Mác – Lê-nin để rồi từ đó Bác Tôn được cùng Bác Hồ trở thành lãnh tụ của dân tộc, cùng làm công bộc của nhân dân.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Bác Tôn sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888, trong một gia đình nông dân lao động ở Long Xuyên, An Giang. Lớn lên giữa những năm tháng thực dân Pháp đang mở rộng cuộc xâm lược ra toàn cõi Việt Nam và cũng là thời điểm mà phong trào yêu nước của nhân dân phát triển mạnh mẽ ở Nam Kỳ cũng như trong cả nước, chứng kiến sự hành hạ, đối xử bất công của chúng đối với người dân nước Việt, ở anh thanh niên Tôn Đức Thắng sớm xuất hiện tình cảm yêu nước, căm ghét bọn thực dân. 

Chính với hành trang yêu nước, thương nòi ấy, năm 1912, anh thanh niên Tôn Đức Thắng đã tham gia tổ chức cuộc bãi công của học sinh Trường Bách Nghệ và công nhân Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son. Năm 1915 khi đang học thợ máy ở Trường Bách Nghệ, Tôn Đức Thắng đã bị động viên sang Pháp làm lính thợ phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Năm 1919 Tôn Đức Thắng tham gia phản chiến, kéo cờ đỏ trên chiến hạm France tại Biển Đen ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau  sự kiện kéo cờ đỏ trên Hắc Hải nổi tiếng, năm 1920 Tôn Đức Thắng bị chính quyền thực dân trục xuất về Sài Gòn. Tại đây, Bác Tôn cùng những người bạn thân thiết lập ra tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam - Công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, đấu tranh chống đế quốc tư bản và lãnh đạo phong trào công nhân những năm kế tiếp là dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Tôn, đưa tên tuổi của Người trở thành một trong những biểu tượng điển hình nhất, đặc sắc nhất trong lịch sử giai cấp công nhân và phong trào công nhân Việt Nam.

Năm 1926, Bác Tôn tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Cuối năm 1929, do hoạt động cách mạng, Bác Tôn bị Thực dân Pháp bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, sau đó bị đày ra Côn Đảo suốt 17 năm và trở thành người tù có thâm niên lâu nhất ở đây. Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Tôn được chính quyền cách mạng đón về đất liền và tham gia ngay vào cuộc chiến đấu mới chống thực dân Pháp xâm lược.

Khoảng tháng 2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đón Bác ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu cho tình đoàn kết Bắc - Nam, để cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước. Với uy tín lớn trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, Bác Tôn đã được giao nhiều trọng trách: Tổng Thanh tra của Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (4/1946 - 3/1951), Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (từ 7/3/1951 đến 10/9/1955), Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt Nam - Liên Xô... liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ 1/1948 đến lúc ra đi. Suốt 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng là 20 năm Bác Tôn liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ 10/9/1955 đến 2/1977) và Chủ tịch danh dự Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày qua đời (30/3/1980).

Cũng trong thời gian đó, Bác còn đảm nhiệm nhiều trọng trách: Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Uỷ ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng Hòa bình thế giới. Ngày 15/7/1960, Bác Tôn được Quốc hội thay mặt nhân dân ta bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã siết chặt tay Bác Tôn nói: “Toàn thể Quốc hội nhất trí bầu cụ làm Phó Chủ tịch nước, tức là đồng bào miền Nam đều bầu cụ làm Phó Chủ tịch nước. Điều đó tiêu biểu rằng nước ta nhất định thống nhất”.

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tại kỳ họp đặc biệt Quốc hội (khóa III) ngày 15/9/1969, Bác Tôn được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, đồng thời vẫn kiêm làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, tổ chức động viên nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến toàn thắng, thống nhất nước nhà.

Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy gian lao và nguy hiểm, trong đó có 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm làm Chủ tịch nước, Bác Tôn đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học sâu sắc, cho nhân dân ta một tấm gương sáng về chuẩn mực sống của một công dân yêu nước. Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất và lâu năm nhất của Mặt trận Liên Việt,  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác Tôn đã cống hiến hết mình vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Chúng ta biết rằng, sau việc thống nhất Hội Liên Việt và Mặt trận Việt Minh thành Mặt trận Liên Việt hoàn tất, đồng chí Tôn Đức Thắng trở thành Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Với tư cách là người đứng đầu Mặt trận Liên Việt từ năm 1951, về đến Hà Nội là Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã cùng với Ủy ban Trung ương Mặt trận Liên Việt bắt tay ngay vào giải quyết những công tác, nhiệm vụ của Mặt trận trong tình hình mới, có nhiều biến đổi, rất có lợi cho củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Kết quả vang dội nhất là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là chiến thắng kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược chính là kết quả của sự lớn mạnh không ngừng của khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Liên Việt dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà người trực tiếp lãnh đạo Mặt trận Liên Việt là Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Ngày 7/1/1955, Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc đã họp để kiểm điểm thực hiện chính sách kháng chiến, kiến quốc, tranh thủ hòa bình, độc lập. Sau diễn văn khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đọc bản Báo cáo chính trị quan trọng. Báo cáo đã trình bày những hoạt động đa dạng của Mặt trận Liên Việt, làm dấy lên một phong trào thi đua yêu nước giết giặc lập công, kháng chiến kiến quốc khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm đóng.

Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí đoàn kết, quyết tâm của mọi tầng lớp nhân dân, đồng bào ta đã đưa ra tiền tuyến hàng trăm ngàn chiến sĩ tham gia ba thứ quân, lập nên những chiến công vang dội, đóng góp nhiều sức người, sức của giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Ở hậu phương, đồng bào ta vừa bảo đảm đẩy mạnh tăng gia sản xuất cung cấp lương thực, thực phẩm để bộ đội ăn no, đánh mạnh; ngoài ra, còn đóng góp hàng triệu lượt dân công sửa chữa cầu đường, vận chuyển lương thực, súng ống, đạn dược phục vụ chiến trường. Thực hiện chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất, tại các vùng giải phóng và căn cứ du kích, nhiều hộ nông dân được nhận ruộng, trâu bò, công cụ sản xuất, được giảm tô. Được giải quyết và thỏa mãn một phần quan trọng lợi ích kinh tế, Mặt trận chống đế quốc và phong kiến ở nông thôn càng được củng cố vững chắc. Khối liên minh chiến đấu công nông – nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất, cơ sở xã hội rộng rãi của Nhà nước dân chủ nhân dân – cũng được củng cố ngay trên địa bàn thôn, xã.

Trên trường quốc tế, chính sách đại đoàn kết của Mặt trận cũng thu được những thắng lợi đáng kể. Quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa nước ta với Liên Xô, Trung Quốc, nhất là với hai nước anh em Lào và Campuchia không ngừng phát triển, được nâng lên một tầm cao mới, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chín năm thần thánh.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng nước ta đứng trước tình hình mới: miền Bắc hoà bình xây dựng CNXH, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước. Tình hình, nhiệm vụ mới của cách mạng mỗi miền đã tác động tới sự tập hợp lực lượng của cách mạng ở nước ta: Mặt trận Liên Việt được đổi thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 9/1955), Chủ tịch Tôn Đức Thắng tiếp tục được tín nhiệm làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Do tình hình, nhiệm vụ cách mạng ở hai miền Nam Bắc khác nhau, tại Đại hội III của Đảng (9/1960), Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã phân tích rõ chủ trương của Đảng về việc thành lập một mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam, thực chất là mặt trận dân tộc dân chủ và đề nghị Mặt trận ở miền Nam phải căn cứ vào tinh thần Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để đề ra Cương lĩnh thích hợp. Tháng 12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch đã tạo ra cơ sở chính trị mới thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ hơn.

Tại các Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II (1961), lần thứ III (1971), Chủ tịch Tôn Đức Thắng đều được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, việc thống nhất các tổ chức Mặt trận thành một tổ chức Mặt trận đoàn kết dân tộc chung cho cả nước là nguyện vọng của toàn dân, là đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng nước Việt Nam thống nhất. Tháng 2/1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam được tiến hành đã thống nhất các tổ chức Mặt trận ở nước ta thành một tổ chức Mặt trận chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là bước phát triển mới của Mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta, có sự đóng góp trực tiếp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Với những cống hiến xuất sắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, mặc dù tuổi cao, Chủ tịch vẫn được bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho tới khi qua đời (1980).

Những thành công to lớn trong vai trò là nhà tổ chức, xây dựng và phát triển Mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta là kết quả của sự vận dụng đúng đắn tư tưởng đại đoàn kết của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng thời, xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước, trên cương vị lãnh đạo, bằng trí tuệ, trách nhiệm và tình cảm chân thành, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã góp phần làm phong phú thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, về phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng lực lượng cách mạng bằng xây dựng thành công Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong hoà bình xây dựng đất nước.

Là người cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là người góp phần tích cực vào việc thực hiện tình đoàn kết gắn bó giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước. Do những cống hiến đối với phong trào cách mạng thế giới, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Hòa bình thế giới và được trao tặng Giải thưởng Lê-nin “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”, cùng nhiều huân chương cao quý nhất của các nước anh em. 

Hơn 30 năm liên tục được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, giao nhiệm vụ, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã tận tâm, tận lực giương cao ngọn cờ đại đoàn kết của lãnh tụ Hồ Chí Minh để lãnh đạo, tổ chức xây dựng và phát triển Mặt trận đoàn kết toàn dân, tập hợp tất thảy các lực lượng yêu nước, phát huy cao nhất nội lực của dân tộc và đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là nhà tổ chức tài năng của Mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng là tấm gương về sự tận tuỵ với nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết của dân tộc, vì mục tiêu lý tưởng của Đảng của một người mà cuộc đời là tấm gương cần kiệm cho nước, cho dân và trong cả cuộc sống sinh hoạt thường ngày.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

Là người tiêu biểu nhất thực hiện tư tưởng đại đoàn kết của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc vì độc lập của dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH, tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch gắn liền với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng nước ta, mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc trong thế kỷ XX.

Trọn đời, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nêu một tấm gương ngời sáng về phẩm chất cao đẹp của người cộng sản. Ngày nay, trước những đòi hỏi của cuộc sống mới, tấm gương đạo đức cách mạng cao đẹp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng càng có ý nghĩa để mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực học tập, rèn luyện, noi theo để phấn đấu góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bùi Thị Thanh

Phó Chủ Tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam

 

Nguồn: Đại Đoàn Kết Online (Xem tại đây)
Lượt xem: 68
Bản in Xuất tập tin Quay lại
Tin đã đưa
Bình luận
Ý kiến bạn đọc (0)
imageUser
Thông tin cá nhân
Bạn vui lòng để lại thông tin để gửi bình luận
Đóng
Lưu thông tin