image Tin hoạt động Báo chí
KHẲNG ĐỊNH CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM
Thứ năm, Ngày 12/03/2020, 00:00 SA Cỡ chữ Màu chữ image

Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự kiện Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Nước CHXHCN Việt Nam) chính thức ra đời vào ngày 2/9/1945 cũng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Pháp thuộc cũng như sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn.

Cùng với đó, khi các cơ sở pháp lý của những hiệp ước do nhà Nguyễn ký kết với Pháp trước đây không còn hiệu lực nữa, rõ ràng chủ quyền toàn bộ lãnh thổ trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lẽ ngay lập tức thuộc về nhân dân và dân tộc Việt Nam. Song, với nhiều “khúc quanh” của lịch sử, con đường tái lập và tái khẳng định chủ quyền thực sự của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn sau năm 1945 phải vượt qua nhiều thách thức. Mặc dù vậy, trong bất cứ tình huống nào, Việt Nam đã, đang và và sẽ luôn khẳng định chủ quyền không thể chối cãi với đầy đủ cứ liệu lịch sử của mình trên hai quần đảo này và luôn nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Bảo vệ vững chắc thềm lục địa, lãnh hải, biển đảo là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam

Công lý luôn ở phía sự thật

Lợi dụng thời điểm Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận rộn đối phó với những hành động gây hấn ngày càng leo thang của quân đội viễn chinh Pháp, các ngày 26/10 và 29/11/1946, một số chiếm hạm của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc lần lượt di chuyển đến quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo Phú Lâm (Woody), riêng hai chiến hạm Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc gọi là Đoàn Sa, chưa phải là Nam Sa).

Khi đó, chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp này của Trung Hoa Dân Quốc. Đáp trả hành động bất hợp pháp này, Pháp điều chiến hạm Tonkinois đến Hoàng Sa để yêu cầu quân lính của Tưởng Giới Thạch phải rút khỏi các đảo nhưng quân Tưởng đã không thực hiện theo yêu cầu và sau đó chính phủ Pháp tiếp tục gửi thêm một phân đội lính trong đó có cả quân lính của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đến trú đóng trên đảo Hoàng Sa (Pattle). Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và trước áp lực của cái gọi là “công lý quốc tế” thì các cuộc thương lượng giữa hai bên được tiến hành từ ngày 25/2 đến ngày 4/7/1947 tại Paris.

Bản đồ Trung Quốc do Nouveau Dictionnaire Encyclopédique, Librairie Larousse ấn hành tại Paris (Pháp) năm 1948 thể hiện vùng biển đảo không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc đàm phán thất bại vì Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết vấn đề do phía Pháp đề xuất. Điều này cho thấy, phía Trung Quốc ngay từ thời Tưởng Giới Thạch chưa từng bao giờ không muốn “quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” vì chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý của họ sẽ chẳng thể thuyết phục được ai nếu buộc phải chứng minh trước trọng tài hay tòa án quốc tế.

Trong tập sách Tổ quốc Nơi đảo xa (do báo Đại đoàn kết và NXB Văn hóa Văn nghệ phối hợp ấn hành), nhà nghiên cứu – tiến sỹ H.N.Nguyễn Nhã cho rằng, trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào Hòa ước Giáp Thân (1884) song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao Pháp vẫn thực thi quyền đại diện cho Việt Nam trong việc chống lại sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam (trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp dựng lên Chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp do Cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu để củng cố các cơ sở hình thức về pháp lý cho một bộ máy hành chính quốc gia của người Việt Nam tạo thuận lợi cho Pháp trong các quan hệ đối nội, đối ngoại nhân danh quốc gia Việt Nam. Trên thực tế, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp làm chủ tình hình trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 4/1949, Đổng lý Văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại là Hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn (này là Thành phố Hồ Chí Minh) từng công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cộng đồng quốc tế đứng về phía Việt Nam

Đến ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, quân đội Tưởng Giới Thạch thua và chạy ra đảo Đài Loan. Tháng 4/1950, tất cả quân lính của Tưởng Giới Thạch chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Phú Lâm (Woody), thuộc quần đảo Hoàng Sa phải rút lui, riêng lính Pháp và lính Quốc gia Việt Nam ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn tiếp tục đồn trú. Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chiến sỹ trẻ tại Hoàng Sa luôn vững tay súng trong tập luyện, cũng như thực thi nhiệm vụ bảo vệ biển đảo (Ảnh: SGGP)

Khi đó, thủ hiến Trung phần là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc chuyển giao quyền hành ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hay nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền của dân tộc Việt Nam, do người Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền.

Đến giai đoạn Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 kết thúc, và từ ngày 5- 8/9/1951, các nước Đồng minh trong Thế chiến thứ II tổ chức hội nghị ở San Francisco (Hoa Kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời kỳ hậu chiến.

Hòa ước được ký tại Hội nghị San Francisco 1951 (Ảnh tư liệu)

Trước hội nghị này, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ là Chu Ân Lai bất ngờ lần đầu tiên tuyên bố công khai yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông nhưng không đưa ra được bất kỳ bằng chứng lẫn cơ sở pháp lý nào thuyết phục cộng đồng quốc tế.

Không chỉ Trung Quốc và Đài Loan bị loại khỏi Hội nghị theo thỏa hiệp giữa một bên là Mỹ và Anh, còn một bên là Liên Xô và hơn thế nữa, Hòa ước San Francisco được ký giữa các bên có các khoản mục nội dung ghi rõ Nhật Bản phải từ bỏ mọi quyền lợi và tham vọng với hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa) và Hòa ước cũng phủ nhận việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía nam.

Vào ngày 7/9/1951, cũng chính tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam long trọng tuyên bố trước sự chứng kiến của 51 nước tham dự rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Việt Nam.

Lời xác nhận chủ quyền của phái đoàn Việt Nam khi đó cũng được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả quốc gia tham dự.

Có thể khẳng định rằng, về khía cạnh pháp lý, việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước đại diện 51 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc tại Hội nghị San Francisco cho thấy từ năm 1951 thì Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới đương nhiên thừa nhận là thuộc chủ quyền của Việt Nam, có giá trị tuyệt đối, phù hợp luật pháp quốc tế, buộc các quốc gia khác phải thừa nhận, kể cả với quốc gia và vùng lãnh thổ không tham dự Hội nghị là Trung Quốc và Đài Loan.

Nói một cách khách quan và toàn diện, việc Chính phủ Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn này tham dự Hội nghị San Francisco dưới sự bảo trợ của Chính phủ Pháp và tuyên bố chủ quyền lâu đời với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ rất sớm về pháp lý cũng như về sự chiếm hữu thực tế một cách hòa bình, lâu dài và liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của dân tộc Việt Nam chúng ta.

Thay lời kết: Dựa trên những tư liệu đã được công bố, có thể khẳng định rằng muộn nhất từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XIX, những hòa ước ký kết giữa Việt Nam với Pháp đã quy định rằng chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương thay mặt triều đình nhà Nguyễn gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó. Đồng thời, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương cũng đã thi hành mọi biện pháp để khẳng định sự chiếm hữu theo đúng tập quán quốc tế cũng như các biện pháp quản lý hành chính đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến giữa thế kỷ XX, tuy một số đảo của Hoàng Sa và Trường Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (1951), Chính phủ Nhật Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như các chính quyền không tham dự bởi những ràng buộc của Tuyến cáo Cairo (1943) và Tuyên bố Potsdam (1945). Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco rõ ràng là sự tái lập, tái khẳng định một sự thật lịch sử đã có từ lâu đời và nay vẫn đang tiếp diễn. Hơn nữa, Hội nghị Genève năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco cũng đã tiếp tục tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

(Còn tiếp)

 

 

Trần Minh Tài
Lượt xem: 28149
Bản in Xuất tập tin Quay lại
Tin mới hơn
Tin đã đưa
Bình luận
Ý kiến bạn đọc (0)
imageUser
Thông tin cá nhân
Bạn vui lòng để lại thông tin để gửi bình luận
Đóng
Lưu thông tin